Lá tía tô giúp đẩy lùi bệnh gút (gout) theo nghiên cứu từ các chuyên gia

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (No Ratings Yet)
Loading...
0
175

Công trình nghiên cứu về cây tía Perilla frutescens (L.) Britt. (Lamiaceae) với các thành phần ức chế enzim Xanthine Oxidase (enzim đóng vai trò quan trọng trong việc sinh tổng hợp acid uric từ đó gây tăng acid uric máu) từ lá tía tô của các giáo sư, tiến sĩ: Li-Na Huo , Wei Wang , Chun-Yu Zhang , Hai-Bo Shi, Yang Liu, Xiao-Hong Liu, Bing-Hua Guo , Dong-Mei Zhao và Hua Gao thuộc Đại học Dược, Đại học Thanh Đảo, Sơn Đông, Trung Quốc;  Viện Giáo dục Y tế Trường Xuân, Cát Lâm, Trung Quốc; Viện Tài nguyên núi Trường Bạch, Học viện Khoa học Y học Trung Quốc Cát Lâm, Trường Xuân, Cát Lâm, Trung Quốc.

Các kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng 5 hợp chất axit caffeic, vinyl caffeate, axit rosmarinic, methyl rosmarinate, và apigenin trong chiết xuất n – butanol của lá tía tô có tác dụng rất tốt và được sử dụng như một tác nhân mới trong điều trị tăng acid uric máu, đã được xuất bản vào 25 tháng 9 năm 2015.

Xin giới thiệu Công trình nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ tại đại học Y Dược thuộc đại học Thanh Đảo để độc giả tham khảo:

1. Bệnh gút (gout) là gì? Tăng acid uric trong máu có phải bệnh gút (gout)

Bệnh Gút (gout) là bệnh lý rối loạn chuyển hóa purin trong cơ thể từ đó làm tăng aicd uric máu dẫn tới ứ đọng tinh thể muối urat tại các khớp gây nên viêm khớp với biểu hiện là sưng, nóng, đỏ, đau. Đa số bệnh nhân gút (gout) sau khi điều trị dứt được cơn đau thường nghĩ rằng mình đã khỏi bệnh nhưng thực ra bệnh vẫn âm thầm tiến triển. Nếu không được điều trị tiếp tục và kịp thời, các cơn gút cấp sẽ trở lại thường xuyên và nặng hơn, ở giai đoạn muộn có thể gây ra biến chứng như xuất hiện những hạt u cục gọi là hạt tophi ở các khớp gây mất thẩm mỹ, biến dạng khớp, hạn chế vận động thậm chí có thể dẫn tới tàn phế.

Bệnh gút(gout) là gì? tăng acid uric máu có phải bệnh gút?
Bệnh gút(gout) là gì? tăng acid uric máu có phải bệnh gút?

Tăng acid uric máu có đặc điểm là do lượng acid uric cao bất thường trong máu do rối loạn chuyển hóa trong sản xuất hoặc do bài tiết acid uric. Tuy nhiên không phải bệnh nhân nào tăng acid uric máu cũng đều biểu hiện bệnh gút(gout). Nhiều nghiên cứu cho thấy tăng acid uric huyết còn liên quan tới cả rối loạn tim mạch, rối loạn chức năng thận, tăng lipid máu, tăng huyết áp, ung thư, tiểu đường, hội chứng chuyển hóa… từ đó gây ra nhiều bệnh khác.

Enzim Xanthine oxidase (XO) đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh tổng hợp axit uric bằng cách chuyển hypoxanthine sang xanthine và tiếp tục chuyển hóa xanthine thành acid uric.

2. Nghiên cứu tác động của tía tô với bệnh gút (gout)

Trong tây y thuốc Allopurinol có tác dụng giảm acid uric huyết được chỉ định cho bệnh nhân sử dụng sau cơn gút cấp tuy nhiên thuốc để lại nhiều tác dụng phụ, gây ra một số phản ứng phụ nghiêm trọng ở một số bệnh nhân sử dụng điều trị tăng acid uric máu như sốt, phát ban, phản ứng dị ứng, viêm gan, bệnh thận nên rất hạn chế sử dụng được allopurinol trên lâm sàng. Bởi vậy các chất ức chế Xanthine oxidase từ thiên nhiên được quan tâm, khám phá như một chất hữu hiệu, không tác dụng phụ, an toàn không độc hại để điều trị chứng tăng acid uric huyết.

Nghiên cứu về tác động của các hoạt chất tía tô với bệnh gút(gout)
Nghiên cứu về tác động của các hoạt chất tía tô với bệnh gút(gout)

Cây tía tô còn được gọi là Perilla frutescens được biết tới và sử dụng rộng rãi tại các quốc gia Châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Nhật Bản… Trong những năm gần đây lá tía tô đã thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu và người tiêu dùng do lợi ích dinh dưỡng, sức khỏe mà lá tía tô đem lại cũng như bảo vệ gan, hạ lipid máu, chống dị ứng, chống ung thư, chống viêm, chống oxy hóa.

Nghiên cứu lá tía tô tác dụng điều trị gút đã chỉ ra rằng 5 hợp chất axit caffeic, vinyl caffeate, axit rosmarinic, methyl rosmarinate, và apigenin trong chiết xuất n – butanol của lá tía tô có tác dụng rất tốt trong điều trị tăng acid uric máu. Vậy chúng ta cùng tìm hiểu phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học tại Trung Quốc để có thể đưa ra được kết luận tía tô có tác dụng tốt trong điều trị bệnh gút như thế nào?

3. Phương pháp nghiên cứu tác động của tía tô với bệnh gút (gout)

Nghiên cứu thực hiện các thử nghiệm để tiến hành khảo sát khả năng ức chế enzim Xanthine Oxidase (XO) của các thành phần trong lá tía tô từ đó giúp giảm acid uric máu.

Chất ức chế XO từ lá tía tô được nghiên cứu bằng cách sử dụng một quy trình hướng dẫn sinh học để mô tả các hợp chất hoạt động để phòng ngừa và điều trị tăng acid uric máu. Hoạt tính ức chế XO của enzim được đo bằng phương pháp quang phổ bằng cách xác định sự hình thành axit uric ở 295 nm với xanthine làm chất nền, phân tích theo phương pháp thống kê và phương pháp phân tích HPLC.

4. Tiến hành thí nghiệm nghiên cứu tác động của tía tô với bệnh gút (gout)

Nguyên vật liệu thực hiện nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học của các giáo sư, bác sĩ tại Đại học y dược thuộc đại học Thanh Đảo Trung Quốc lựa chọn giống tía tô Perilla frutescens (L.) Britt. thu thập từ vùng ngoại ô Trường Xuân, tỉnh Cát Lâm của Trung Quốc vào tháng 10 năm 2011.

Tiến hành chiết xuất và tách ly các hợp chất hoạt tính từ lá tía tô

Lá tía tô P.frutescens (3 kg) được cắt thành từng miếng nhỏ và chiết xuất bằng nước sôi (36 L x 2 lần) trong 2 giờ và sau đó lọc qua lưới hai lớp. Lọc nước được thu thập và tập trung vào một bể nước sôi để làm khô 472 g chiết xuất (PFLT). Một phần của PFLT được dành riêng cho các hoạt động khảo nghiệm, trong khi phần còn lại (400g) được lơ lửng trong nước và phân chia thành n- butanol, tiếp theo là nồng độ để sản xuất 88g chiết xuất n- butanol (PFLTB) và 298 g chiết xuất nước PFLTH), tương ứng. Hoạt tính ức chế XO của tất cả các chiết xuất được ước lượng bằng phương pháp in vitro và chiết xuất PFLTB cho thấy hoạt tính mạnh khi so sánh với chiết xuất PFLT và PFTLH. Chiết xuất PFLTB hoạt tính (65 g) đã được tiến hành sắc ký cột mở bằng nhựa macroporous HPD 600 và tiếp tục rửa sạch bằng nước và 70% etanol, do đó tạo ra một phần tách nước (PFLTB-A, 11g) và 70% ethanol eluted phần (PFLTB-B, 49 g).

Kết cấu của các hợp chất được xác định từ các phân tử hoạt tính: axit caffeic ( 1 );vinyl caffeate ( 2 ); axit rosmarinic ( 3 ); methyl rosmarinate ( 4 ); apigenin ( 5 ).
Kết cấu của các hợp chất được xác định từ các phân tử hoạt tính: axit caffeic ( 1 );vinyl caffeate ( 2 ); axit rosmarinic ( 3 ); methyl rosmarinate ( 4 ); apigenin ( 5 ).

Thử nghiệm hoạt động enzim Xanthine Oxidase (XO)

Phương pháp ức chế XO được thực hiện theo phương pháp được nhóm nghiên cứu điều chỉnh. Các mẫu được kiểm tra đã được hòa tan trong dimethyl sulfoxide (DMSO) và sau đó pha loãng với 70 mM phosphate buffer (pH = 7,5) đến nồng độ cuối cùng chứa ít hơn 1% DMSO ( v / v ). Hỗn hợp khảo nghiệm bao gồm 200 μl dung dịch thử, 140 μl dung dịch đệm phosphat 70 mM (pH = 7,5) và dung dịch enzyme 120 μL (0,02 đơn vị / ml trong cùng một đệm) được chuẩn bị ngay trước khi sử dụng. Sau khi ủ ở 25°C trong 15 phút, phản ứng này được bắt đầu bằng việc bổ sung 240 μl dung dịch chất nền (300 μM xanthine trong cùng một đệm). Hỗn hợp khảo nghiệm được ủ ở 25°C trong 30 phút. Phản ứng này dừng lại bằng cách thêm 100 μl 1 M HCl, và mức acid uric được xác định bằng phương pháp HPLC sử dụng một cột Diamonsil ODS-C18 (250 x 4.6 mm id, 5 μm, Dikma Technologies, Beijing, China) trên Agilent 1260 được trang bị một máy bơm cấp ba G1311C, một bộ lấy mẫu tự động G1329B, khoang cột nhiệt được làm nóng bằng G1316A, và một máy dò hạt bước G1314F kết hợp với một máy trạm phân tích (Agilent Technologies, Inc., Santa Clara, CA, USA).Sau khi lọc, 20 μl mẫu đã được tiêm vào cột và lọc bằng natri dihydrogen phosphate 100 mM trong nước với tốc độ dòng chảy 1 mL / phút. Các eluate được theo dõi cho hấp thụ ở 290 nm.Thuốc Allopurinol được sử dụng như một kiểm soát dương tính. Giá trị IC50 của các mẫu được tính từ các đường hồi quy của một âm mưu tỷ lệ ức chế hoạt tính XO so với nồng độ các mẫu.

Thử nghiệm các phương thức hành động ức chế XO

Các chất xúc tác enzyme được xác định khi vắng mặt và sự hiện diện của các mẫu được kiểm tra với nồng độ khác nhau của xanthine (37,5, 50, 75 và 100 μM) là chất nền, ở đó các mẫu thử nghiệm ở các nồng độ khác nhau (5-100 μM) và xanthine ở nồng độ nhất định, sử dụng phương pháp luận XO. Các ô được vẽ bởi vận tốc đối ứng (ν-1) so với hàm lượng chất nền (1 / [xanthine]).

 Phân tích thống kê

Dữ liệu từ các thí nghiệm in vivo được biểu diễn bằng sai số trung bình ± trung bình (SEM) và được phân tích bằng phương pháp phân tích một chiều bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0. Một giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê. Giá trị IC 50 của các mẫu được tính bằng phần mềm Origin version 8.0 (Tổng công ty OriginLab, Noethampton, Anh). Loại ức chế và giá trị K tôi được phân tích bằng phần mềm GraphPad Prism 5.0 (GraphPad Software, Inc., La Jolla, CA, USA).

Các đồ thị Lineweaver-Burk của sự ức chế XO của các hợp chất với nồng độ khác nhau của xanthine. Dữ liệu chuyển đổi Lineweaver-Burk đã được vẽ và tiếp theo là hồi quy tuyến tính của các điểm. Dữ liệu đại diện cho trung bình của các thí nghiệm ba lần. ( A ) axit caffeic; ( B ) vinyl caffeate; ( C ) axit rosmarinic; ( D ) methyl rosmarinat; ( E ) apigenin.
Các đồ thị Lineweaver-Burk của sự ức chế XO của các hợp chất với nồng độ khác nhau của xanthine. Dữ liệu chuyển đổi Lineweaver-Burk đã được vẽ và tiếp theo là hồi quy tuyến tính của các điểm. Dữ liệu đại diện cho trung bình của các thí nghiệm ba lần. ( A ) axit caffeic; ( B ) vinyl caffeate; ( C ) axit rosmarinic; ( D ) methyl rosmarinat; ( E ) apigenin.

 Kết luận

Kết quả cho thấy tất cả các hợp chất trong tía tô và thuốc allopurinol đều có tính ức chế cạnh tranh. Riêng hợp chất apigenin trong lá tía tô ức chế hoạt động của Xanthine oxidase – gây tăng acid uric máu không chỉ bởi một phương thức cạnh tranh, mà còn bởi sự tương tác với enzyme tại một địa điểm khác ngoài trung tâm hoạt động, nó phù hợp với những kết quả trong các nghiên cứu trước đây. Các loại thuốc ức chế khác nhau do acid caffeic và các dẫn xuất của nó đã được báo cáo trong các nghiên cứu trước. Dưới điều kiện thí nghiệm, axit caffeic có chế độ ức chế cạnh tranh, phù hợp với kết quả được báo cáo bởi Chen et al.

Những phát hiện từ nghiên cứu cho thấy các hợp chất phân tử trong lá tía tô có tác dụng rất tốt trong việc ức chế enzim Xanthine Oxidase từ đó giúp giảm acid huyết, ngăn ngừa bệnh gút (gout), ngoài ra còn là bằng chứng về hoạt động chống tăng nấm đại tràng, tốt cho hệ tiêu hóa, thích hợp cho chế độ ăn kiêng.

Hi vọng qua nghiên cứu của các giáo sư, tiến sĩ tại đại học Y Dược Trung Quốc giúp chúng ta tìm cho mình được một phương pháp giúp giảm acid uric máu từ lá tía tô hiệu quả, không gây tác dụng phụ, không chỉ giúp điều trị bệnh gút (gout) mà còn đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Tham khảo thêm bột tía tô phòng và điều trị bệnh gút hiệu quả   tại đây

Nguồn: Thư viện y khoa Quốc Gia Hoa Kỳ – Viện Y tế quốc gia – PubMel.gov

Có thể quan tâm:

Cách chữa gút (gout) bằng tía tô hiệu quả nhất hiện nay

Dùng tía tô trị gút (gout) hiệu quả sau một tháng

Bột tía tô Akina Nhật Bản

Dành cho đại lý

Tham gia hệ thống đại lý để nhận được chiết khấu hấp dẫn. Đăng ký hoặc Tìm hiểu thêm

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here